|
Các Phó Giám đốc Trung tâm:
- Ths. Nguyễn Thị Nghĩa
- Cn. Hà Thị Ngân
|
  |
1. Lịch sử hình thành.
Trung tâm TT-TV là đơn vị thuộc Học viện Tài chính, được thành lập theo quyết định số 221/QĐ-HVTC-TCCB ngày 22/04/2002 của giám đốc HVTC, trên cơ sở sáp nhập giữa: Thư viện Trường ĐHTC-KT, Thư viện khoa học tài chính và một phần của Trung tâm tin học.
2. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ.
- Vai trò:
Là bộ phận đảm bảo thông tin cho quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học ở Học viện. Trung tâm TT-TV có vai trò quan trọng trong việc đổi mới giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu của thời đại.
- Nhiệm vụ:
Trung tâm TT-TV có nhiệm vụ giúp Giám đốc Học viện thống nhất quản lý thông tin, tin học và thư viện phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo và đào tạo lại của Học viện và Bộ Tài chính.
- Chức năng của Trung tâm :
+ Sưu tầm, thu thập, gìn giữ, bảo quản các nguồn tài liệu về tài chính kế toán, kinh tế...
+ Xử lý, phân tích, tổng hợp các nguồn tin, tư liệu để tạo ra các sản phẩm thông tin phục vụ công tác đào tạo, đào tạo lại và NCKH của Học viện.
+ Tổ chức các dịch vụ thích hợp với người dùng tin.
3. Cơ cấu tổ chức.
- Ban giám đốc gồm 04 người trong đó:
+ GĐ phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Học viện về quản lý và tổ chức chỉ đạo, thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của trung tâm được Học viện giao.
+ 1 Phó GĐ phụ trách bổ sung - trao đổi - phục vụ bạn đọc.
+ 1 Phó GĐ phụ trách phân loại - biên mục- nghiệp vụ
+ 1 Phó GĐ phụ trách phòng máy và mạng và thông tin.
- Các bộ phận chuyên môn gồm :
+ Bộ phận bổ sung - trao đổi.
+ Bộ phận nghiệp vụ.
+ Bộ phận thông tin, công nghệ thông tin, mạng.
+ Bộ phận phục vụ và dịch vụ.
- Hệ thống phục vụ bạn đọc có tại :
+ Cơ sở đào tạo Đông ngạc.
+ Số 8 Phan Huy Chú
+ Số 53 E Phan Phù Tiên.
4. Quá trình phát triển.
- Tiền thân của Trung tâm là Thư viện trường ĐHTCKT, được thành lập ngay khi thành lập trường năm 1963. Lúc đầu số cán bộ của thư viện có 3 người kiêm nhiệm vụ giảng dạy tại khoa dự bị, tài liệu có 851 tên với 11.600 cuốn, đến năm 1970 lên tới 4.872 tên với 64.312 cuốn.
- Thời kỳ từ 1975 - 1990 đặc thù cơ bản của trường là vừa đào tạo vừa xây dựng cơ bản vừa di chuyển... nên hoạt động thư viện không tránh khỏi những khó khăn nhất định, điều kiện phục vụ bị hạn chế bởi đặc điểm của thời kỳ bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên công tác phục độc giả, phục vụ nhiệm vụ giảng dạy, học tập và NCKH đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Các hoạt động nghiệp vụ và thông tin tư liệu được tạo lập và đưa vào nề nếp được lãnh đạo nhà trường đánh giá tốt. Có nhiều năm thư viện đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc được Bộ khen. Số lượng sách lên tới 15.379 tên với 152.847 cuốn.
- Thời kỳ 1991- 1997 Thư viện đã khẳng định được vịtrí vai trò quan trọng trong Học viện. Nhất là khi có quyết định của Chính phủ (1997) cho phép Trường ĐHTCKT được chuyển từ thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc về xã Đông Ngạc - Từ liêm - Hà Nội, mọi hoạt động chuyên môn được tăng cường để phục vụ nhiệm vụ giảng dạy, học tập và NCKH. Từ khâu bổ sung tài liệu tới việc tổ chức biên tập và phổ biến thông tin đều được đẩy mạnh. Cơ sở vật chất được ổn định, thư viện đã mang dáng vóc của một thư viện hiện đại, ngôi nhà 4 tầng với diện tích 1.500 m2, hệ thống tài liệu tham khảo, tài liệu tra cứu, sách giáo khoa, giáo trình... phong phú. Nguồn tư liệu lên tới 19.442 tên sách và 155.394 cuốn. Các sản phẩm thông tin tư liệu và dịch vụ thông tin được chú trọng phát triển, tháng 12 năm 1997 thư viện bước đầu áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình phục vụ, các hoạt đông thư viện được đổi mới căn bản, đem lại hiệu quả cao. Xây dựng CSDL TM là ứng dụng quan trọng của việc tin học hoá hoạt động thư viện. Các biểu ghi của CSDL được lưu trữ và quản lý bằng phần mềm CDS/ISIS for Dos sau đó chuyển sang CDS/ISIS for Window(WIN ISIS). Bạn đọc ngoài việc tra cứu thông tin theo phương thức truyền thống có thể tra cứu thông tin qua các CSLD lên tới 2,4 vạn biểu ghi.
- Từ 1998 đến nay thư viện phục vụ đắc lực hơn việc giảng dạy học tập và NCKH của Học viện. Thư viện được cải tiến về cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, được dành kinh phí thích đáng để hoạt động thường xuyên. Tháng 5/2001 Ban giám hiệu xây dựng dự án "Đổi mới, tăng cường năng lực của Trung tâm TT-TV". Ngày 22/04/2002 thư viện được phát triển thành Trung tâm TT-TV trên cơ sở sáp nhập của một số đơn vị theo QĐ số 221/QĐ-HVTC-TCCB, cùng lúc dự án được triển khai, một Trung tâm TT-TV hiện đại được ra đời với nguồn lực thông tin mạnh đáp ứng nhu cầu phong phú đa dạng của cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên và sinh viên trong Học viện.
Phần mềm được chuyển đổi từ CDS/ISIS sang Libol, đây là phần mềm tự động hoá thư viện tổng thể và trọn vẹn được chuẩn hoá tuân thủ các tiêu chuẩn nghiệp vụ thư viện Việt Nam cũng như các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 2709, chuẩn UNIMARC, chuẩn tìm kiếm liên thư viện Z39.50.
Tháng 10/2003 phần mềm libol được triển khai ở một số phân hệ, công tác chuyên môn vì vậy được chuẩn hóa đem lại hiệu quả rõ rệt. Công tác thanh lọc được tăng cường, kho tài liệu được đổi mới căn bản luôn bám sát hiện thực cuộc sống, lúc này chỉ còn 14.850 tên với 165.800 cuốn tài liệu giấy, ngoài ra trung tâm còn chú trọng bổ sung các loại hình tư liệu khác và công tác trao đổi với các thư viện trong hệ thống các trường đại học, với các thư viện trong nước... vì thế nguồn lực thông tin không hề bị giảm sút vẫn đảm bảo phục vụ cho quá trình đổi mới chất lượng giáo dục của Học viện. Tính đến hết quý I/2006 Trung tâm đã có 2,5 vạn biểu ghi trong CSDL thư mục. Ngoài việc tra tìm theo phương pháp truyền thống, tại Trung tâm có các phương tiện tra cứu hiện đại, bạn đọc có thể tìm kiếm tài liệu bằng nhiều cách, kể cả việc tra cứu trên mạng Internet. Trung tâm đã kết nối mạng Internet với trong và ngoài Học viện, có thể nói việc tin học hoá hoạt động đã cơ bản hoàn thành, trong tương lai Trung tâm đang hướng tới việc xây dựng nguồn tài liệu số hóa để phục vụ bạn đọc thuận tiện hơn nữa.
5. Thành tích.
Do phục vụ hiệu quả quá trình học tập, giảng dạy và NCKH của Học viện nên có nhiều năm đơn vị được Học viện và Bộ khen là tập thể LĐTT_SX.
Cá nhân nhiều đ/c đạt danh hiệu thi đua bậc cao như : Thủ tướng chính phủ khen, CSTĐ ngành Tài chính, CSTĐ Bộ Tài chính, CSTĐ Bộ Giáo dục đào tạo, Huy chương vì sự nghiệp Tài chính, Huy chương vì sự nghiệp Giáo dục ... |