|
BAN LÃNH ĐẠO
|
|
Phụ trách khoa: |
PGS.TS. Đinh Xuân Hạng  |
|
Các Phó Trưởng khoa: |
ThS. Võ Thị Pha
Ths. Nguyễn Văn Lộc
|
|
CÁC BỘ MÔN TRONG KHOA |
|
Bộ môn Bảo hiểm |
|
Trưởng Bộ môn: |
ThS. Võ Thị Pha |
|
Phó trưởng Bộ môn: |
ThS. Đoàn Minh Phụng |
|
Bộ môn Nghiệp vụ Ngân hàng |
|
Trưởng Bộ môn: |
Ths. Nguyễn Văn Lộc |
|
Phó trưởng Bộ môn: |
Ths. Trần Cảnh Toàn
Ths. Nghiêm Văn Bảy |
|
Bộ môn Thị trường chứng khoán và Kinh doanh chứng khoán |
|
Trưởng Bộ môn: |
TS. Hoàng Văn Quỳnh |
|
Phó trưởng Bộ môn: |
TS. Nguyễn Thị Hoài Lê |
1. Lịch sử và cơ cấu tổ chức Khoa Ngân hàng Bảo hiểm
* Quá trình hình thành khoa và các chuyên ngành đào tạo
Khoa Ngân hàng và Bảo hiểm với mô hình tổ chức hiện nay là đào tạo 3 chuyên ngành:
• Ngân hàng
• Bảo hiểm
• Kinh doanh chứng khoán.
Trong đó chuyên ngành Ngân hàng đào tạo từ khoá 2 (1964) đến khoá 14 (1980), ngắt quãng đi 15 khoá, đến khoá 29 (1991) mới đào tạo lại. Chuyên ngành Bảo hiểm bắt đầu đào tạo từ khoá 12 (1974) và kinh doanh chứng khoán từ khoá 41 (2003). Giai đoạn đầu từ khoá 2 đến khoá 14 cả 2 chuyên ngành Ngân hàng và Bảo hiểm thuộc khoa Ngân hàng. Thời gian không đào tạo Ngân hàng thì chuyên ngành bảo hiểm thuộc khoa Tài chính. Đến năm 1991 cả hai chuyên ngành thuộc khoa Tài chính doang nghiệp. Năm 2002, thành lập Học viện Tài chính tách ra thành khoa Ngân hàng và Bảo hiểm. Năm 2003 hình thành chuyên ngành Kinh doanh chứng khoán thuộc khoa Quản trị kinh doanh. Đến tháng 10/2005, theo Quyết định số 771/QĐ - HVTC của Giám đốc Học viện Tài chính sát nhập hai bộ môn Thị trường chứng khoán và Kinh doanh chứng khoán, điều chuyển về khoa Ngân hàng và Bảo hiểm.
* Đội ngũ cán bộ, giáo viên
• Tổng số: 31
• Số giảng viên: 29
• Cán bộ văn phòng khoa: 2
Trong đó có 1 Phó giáo sư, 4 Tiến sĩ, 16 Thạc sĩ, 7 Nghiên cứu sinh, 5 Học viên Cao học.
* Số lượng sinh viên đang đào tạo
Tổng số sinh viên: 912
Trong đó:
• Hệ Đại học chính quy tập trung: 682
• Hệ Đại học bằng 2: 95
• Hệ hoàn chỉnh kiến thức đại học: 50
• Hệ Đại học Tại chức: 85
* Các danh hiệu thi đua bậc cao:
• Huân chương Lao động hạng 3: Bộ môn Tiền tệ- Tín dụng năm học 1999- 2000.
• Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: Khoa Ngân hàng và Bảo hiểm, Bộ môn Bảo hiểm năm học 2004- 2005.
2. Các thành tích hoạt động
- Tăng quy mô đào tạo
• Số lượng sinh viên theo học các chuyên ngành của khoa hệ đại học chính quy từ khoá 39 trở về trước, mỗi khoá chỉ từ 50- 60 sinh viên. Những khoá sau đã tăng lên rõ rệt, K40 là 115 sinh viên, K41 là 147 sinh viên, K42 là 188 sinh viên, K43 là 232 sinh viên.
• Hệ đại học bằng 2, hoàn chỉnh kiến thức đại học, tại chức đã bắt đầu mở ra từ năm học 2004- 2005.
Có được kết quả trên là xuất phát từ nhu cầu tuyển dụng cán bộ, nhân viên của các Ngân hàng thương mại trong thời gian gần đây và những biện pháp kích thích từ phía khoa như: các suất tài trợ học bổng từ các Ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm trong và ngoài nước, xây dựng phong trào học tập, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao sôi nổi trong toàn khoa để lại tiếng tốt lan truyền đến các thí sinh.
- Chất lượng học tập của sinh viên được nâng lên
• Tỷ lệ sinh viên khá, giỏi, xuất sắc tăng theo các năm học: 2001- 2002 là 31,78%, 2002- 2003 là 33,84%, 2003- 2004 là 35,48%, 2004- 2005 là 38,18%.
• Tỷ lệ sinh viên yếu kém giảm theo các năm học: 2001- 2002 là 11,34 %, 2002- 2003 là 12,83%, 2003- 2004 là 2,3%, 2004- 2005 là 4,09%.
Số lượng và tỷ lệ sinh viên khá, giỏi, xuất sắc có xu hướng ngày càng tăng lên và ổn định. Điều đó được thể hiện là sinh viên có đủ các điều kiện ở mức cao của các nhà tài trợ học bổng. Những năm trước sinh viên chuyên ngành Bảo hiểm chỉ lấy được cao nhất là 50% số suất học bổng của công ty Bảo hiểm Prudential, thì năm 2005 đã lấy đủ 100% (35 suất).
- Hoàn thiện giáo trình các môn học
Những môn học đưa vào chương trình giảng dạy ở Học viện sớm như: Lý thuyết tiền tệ, Nghiệp vụ Ngân hàng, Kế toán Ngân hàng, Bảo hiểm, Thị trường chứng khoán đã có giáo trình chuẩn, là tài liệu tốt cho giáo viên và sinh viên nghiên cứu, học tập. Còn những môn học mới của chuyên ngành Kinh doanh chứng khoán đang khẩn trương hoàn thiện.
- Công tác nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học có sự hỗ trợ rất lớn cho giảng dạy của giáo viên và học tập của sinh viên. Nhận thức được điều đó các thế hệ Ban Chủ nhiệm khoa đã tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học. Hội thảo khoa học giáo viên và sinh viên, thông tin khoa học tiến hành thường xuyên với những chủ đề thiết thực, có sự tham gia của nhiều nhà khoa học trong và ngoài Học viện và các em sinh viên. Các công trình khoa học dự thi của sinh viên đã đạt nhiều giải thưởng của Bộ Giáo dục và đào tạo, trong đó có giải nhất năm 1998.
- Liên kết đào tạo và nghiên cứu khoa học
Khoa đã có sự mở rộng liên kết đào tạo và nghiên cứu khoa học với các Trung tâm đào tạo của Ngân hàng thương mại, Công ty Bảo hiểm và cả bên đối tác nước ngoài như Tập đoàn Tài chính Cathay (Đài Loan). Sự hợp tác này là rất có hiệu quả và mở ra triển vọng cho một hướng phát triển của khoa.

3. Định hướng phát triển đến năm 2015.
- Số lượng sinh viên học các chuyên ngành của khoa.
+ Hệ Đại học chính quy tăng lên gấp đôi (khoảng 1.350 sinh viên) so với hiện nay (682 sinh viên)
+ Theo định hướng là phối hợp với các Ban, Khoa chức năng của Học viện mở rộng đào tạo các lớp hệ HCKT, Đại học bằng 2, Tại chức ở cả 3 chuyên ngành của khoa.
Định hướng số lượng sinh viên tăng lên như vậy là dựa vào cơ sở
• Xu hướng tăng quy mô, mở rộng đào tạo của Học viện.
• Do sự phát triển của hệ thống tài chính, nên nhu cầu tuyển dụng của các Ngân hàng thương mại, công ty Bảo hiểm, công ty Chứng khoán... ngày càng tăng. Do đó, thí sinh đăng ký vào học các chuyên ngành của khoa sẽ tăng lên.
- Chất lượng đào tạo tốt hơn và phát triển vững chắc, cụ thể kết quả học tập của sinh viên đạt tỷ lệ khá, giỏi, xuất sắc từ 60% - 70%/ tổng số sinh viên của khoa (năm học 2004–2005 là 38,18%), tỷ lệ yếu kém giảm xuống còn từ 1%-2% (năm học 2004-2005 là 4,09%)
Định hướng chất lượng đào tạo là phù hợp với:
+ Mục tiêu đào tạo của Nhà nứơc và của Học viện.
+ Điều kiện tuyển dụng vào các Ngân hàng thương mại, công ty Bảo hiểm... đã đưa ra là sinh viên phải đạt kết quả học lực khá trong 4 năm đại học. Có đạt được định hướng trên, mới có nhiều sinh viên có cơ hội việc làm.
- Lực lượng giáo viên: tăng số lượng giáo viên lên gấp 1,5 lần (khoảng từ 40 – 45 giáo viên) so với số giáo viên hiện nay (29 giáo viên), trong đó 40% có học vị tiến sĩ, 90% có học vị thạc sĩ trở lên.
Việc tăng số lượng và chất lượng giáo viên như vậy mới phù hợp với tăng quy mô và chất lượng đào tạo của khoa như các định hướng trên.
- Mở rộng hợp tác, tăng cường gắn kết đào tạo, nghiên cứu khoa học với các Ngân hàng thương mại, công ty Bảo hiểm, công ty Chứng khoán... ở trong và ngoài nước.
Định hướng này là phù hợp với:
+ Phương châm đào tạo phải gắn liền giữa lý luận với thực tiễn. Qua đó sẽ nâng cao trình độ nghiệp vụ, kiến thức thực tế cho giáo viên.
+ Xu hướng hội nhập quốc tế trong lĩnh vực Tài chính Ngân hàng.
+ Tạo ra sự kích thích đối với sinh viên trong học tập và nghiên cứu khoa học từ các suất học bổng đựơc tài trợ.
+ Đáp ứng được yêu cầu về nhân sự cho các Ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán...
4. Các biện pháp nhằm từng bước đạt chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo của Học viện.
*. Đào tạo bồi dưỡng giáo viên.
Giáo viên là “bộ máy cái” có vai trò quan trọng quết định nên chất lượng đào tạo. Do vậy, công tác đào tạo giáo viên cần phải được chú trọng. Với các cơ chế giải quyết của khoa là:
- Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các giáo viên đi học các lớp thạc sĩ, tiến sĩ ở trong nước và nước ngoài theo chỉ tiêu của Học viện hoặc là giáo viên tự liên hệ theo các chương trình, dự án của Việt Nam hợp tác với nước ngoài.
- Cử các giáo viên và khuyến khích các giáo viên tự liên hệ để theo học các lớp vi tính, ngoại ngữ, tập huấn nghiệp vụ, chế độ chính sách... theo chỉ tiêu Học viên hoặc các cơ quan mời theo sự liên hệ của khoa hoặc giáo viên.
- Hàng năm khoa sẽ cử một số giáo viên từ các bộ môn nghiệp vụ đi thực tế, để nắm bắt được các thao tác nghiệp vụ mới nhất mà các Ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán... đang làm. Khoa và các bộ môn sẽ kiểm tra và yêu cầu các giáo viên phải viết báo cáo từ kết quả thực tế.
- Các bộ môn chủ động thu thập các tài liệu cần thiết phổ biến cho các giáo viên và tạo điều kiện cho các giáo viên khai thác Internet từ các máy tính của bộ môn đã nối mạng.Giáo viên là “bộ máy cái” có vai trò quan trọng quết định nên chất lượng đào tạo. Do vậy, công tác đào tạo giáo viên cần phải được chú trọng. Với các cơ chế giải quyết của khoa là:- Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các giáo viên đi học các lớp thạc sĩ, tiến sĩ ở trong nước và nước ngoài theo chỉ tiêu của Học viện hoặc là giáo viên tự liên hệ theo các chương trình, dự án của Việt Nam hợp tác với nước ngoài.- Cử các giáo viên và khuyến khích các giáo viên tự liên hệ để theo học các lớp vi tính, ngoại ngữ, tập huấn nghiệp vụ, chế độ chính sách... theo chỉ tiêu Học viên hoặc các cơ quan mời theo sự liên hệ của khoa hoặc giáo viên.- Hàng năm khoa sẽ cử một số giáo viên từ các bộ môn nghiệp vụ đi thực tế, để nắm bắt được các thao tác nghiệp vụ mới nhất mà các Ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán... đang làm. Khoa và các bộ môn sẽ kiểm tra và yêu cầu các giáo viên phải viết báo cáo từ kết quả thực tế.- Các bộ môn chủ động thu thập các tài liệu cần thiết phổ biến cho các giáo viên và tạo điều kiện cho các giáo viên khai thác Internet từ các máy tính của bộ môn đã nối mạng.
* Đổi mới phương pháp giảng dạy.
Đổi mới phương pháp giảng dạy theo phương pháp giảng dạy tích cực là một chủ trương lớn của Học viện. Khoa Ngân hàng và Bảo hiểm hoàn toàn ủng hộ chủ trương này, bằng việc thực hiện những vấn đề cụ thể sau:
- “Tự đổi mới phương pháp giảng dạy ở từng giáo viên” là phương châm chỉ đạo của khoa.
- Các bộ môn chuẩn bị bài giảng trên máy vi tính các môn học đảm nhận (thời gian qua đã có 4 môn học do 4 bộ môn giảng đã chuẩn bị bài giảng trên máy tính và một số giáo viên đã sử dụng máy để giảng dạy). Phấn đấu đến năm học 2007-2008, 100% giáo viên của khoa sử dụng máy tính để giảng dạy.
- Các bộ môn chuẩn bị và thống nhất một số câu hỏi và một số vấn đề đặt ra cho từng chương, từng phần trong các bước áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực.
- Khoa tổ chức dự giờ đối với giáo viên, chú trọng đối với những giáo viên giảng dạy cho lớp thí điểm. Sau dự giờ có bình giảng, rút kinh nghiệm hay để phổ biến cho giáo viên trong toàn khoa.
Đổi mới phương pháp giảng dạy theo phương pháp giảng dạy tích cực là một chủ trương lớn của Học viện. Khoa Ngân hàng và Bảo hiểm hoàn toàn ủng hộ chủ trương này, bằng việc thực hiện những vấn đề cụ thể sau:- “Tự đổi mới phương pháp giảng dạy ở từng giáo viên” là phương châm chỉ đạo của khoa.- Các bộ môn chuẩn bị bài giảng trên máy vi tính các môn học đảm nhận (thời gian qua đã có 4 môn học do 4 bộ môn giảng đã chuẩn bị bài giảng trên máy tính và một số giáo viên đã sử dụng máy để giảng dạy). Phấn đấu đến năm học 2007-2008, 100% giáo viên của khoa sử dụng máy tính để giảng dạy.- Các bộ môn chuẩn bị và thống nhất một số câu hỏi và một số vấn đề đặt ra cho từng chương, từng phần trong các bước áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực.- Khoa tổ chức dự giờ đối với giáo viên, chú trọng đối với những giáo viên giảng dạy cho lớp thí điểm. Sau dự giờ có bình giảng, rút kinh nghiệm hay để phổ biến cho giáo viên trong toàn khoa.
* Xây dựng chương trình các môn học nghiệp vụ và viết giáo trình môn học.
Khoa chủ động chỉ đạo các bộ môn xây dựng chương trình các môn học nghiệp vụ để đảm bảo tính thời sự trong khoa học chuyên ngành. Việc xây dựng chương trình dựa trên những cơ sở sau:
- Tham khảo chương trình đào tạo các chuyên ngành của các trường Đại học kinh tế trong nước và nước ngoài.
- Sự tiến bộ của công nghệ thông tin được ứng dụng trong hoạt động giao dịch nghiệp vụ và quản lý của Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán...
- Yêu cầu của các tổ chức kinh tế trong đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và tuyển dụng cán bộ.
Khoa chủ động chỉ đạo các bộ môn xây dựng chương trình các môn học nghiệp vụ để đảm bảo tính thời sự trong khoa học chuyên ngành. Việc xây dựng chương trình dựa trên những cơ sở sau:- Tham khảo chương trình đào tạo các chuyên ngành của các trường Đại học kinh tế trong nước và nước ngoài.- Sự tiến bộ của công nghệ thông tin được ứng dụng trong hoạt động giao dịch nghiệp vụ và quản lý của Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán...- Yêu cầu của các tổ chức kinh tế trong đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và tuyển dụng cán bộ.
* Biện pháp tác động đến nâng cao chất lượng học tập của sinh viên.
- Tăng cường quản lý của GVCN đối với các lớp sinh viên. Trong các buổi sinh hoạt lớp GVCN nên phổ biến một số kinh nghiệm học tập và nghiên cứu khoa học cho sinh viên. GVCN tham gia đọc, góp ý và hướng dẫn sinh viên viết các bài báo đăng kỷ yếu hội thảo khoa học, tập san, công trình khoa học dự thi.
- Tổ chức nhiều hình thức hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên như hội thảo thông tin khoa học, sinh hoạt câu lạc bộ sinh viên nghiên cứu khoa học, viết công trình khoa học dự thi...
- Phối hợp với Liên chi đoàn thanh niên trong các hoạt động của sinh viên, như quản lý sinh viên, học tập, nghiên cứu khoa học, phong trào thể dục thể thao, văn nghệ...
- Tăng cường liên hệ với các Ngân hàng thương mại, công ty Bảo hiểm, Trung tâm đào tạo... ở trong và ngoài nước để xin các suất học bổng cho sinh viên, nhằm kích thích nâng cao kết quả học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên.- Tăng cường quản lý của GVCN đối với các lớp sinh viên. Trong các buổi sinh hoạt lớp GVCN nên phổ biến một số kinh nghiệm học tập và nghiên cứu khoa học cho sinh viên. GVCN tham gia đọc, góp ý và hướng dẫn sinh viên viết các bài báo đăng kỷ yếu hội thảo khoa học, tập san, công trình khoa học dự thi.- Tổ chức nhiều hình thức hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên như hội thảo thông tin khoa học, sinh hoạt câu lạc bộ sinh viên nghiên cứu khoa học, viết công trình khoa học dự thi...- Phối hợp với Liên chi đoàn thanh niên trong các hoạt động của sinh viên, như quản lý sinh viên, học tập, nghiên cứu khoa học, phong trào thể dục thể thao, văn nghệ...- Tăng cường liên hệ với các Ngân hàng thương mại, công ty Bảo hiểm, Trung tâm đào tạo... ở trong và ngoài nước để xin các suất học bổng cho sinh viên, nhằm kích thích nâng cao kết quả học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên.
* Chủ động liên kết đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Biện pháp này có thể tiến hành với các đơn vị ở trong và ngoài Học viện, ở trong nước và ở nước ngoài. Tăng cường sự liên kết của khoa bằng những công việc cụ thể sau:
- Chủ động đưa ra các chủ đề hội thảo hoặc nghiên cứu mà cả hai bên đang quan tâm.
- Xây dựng chương trình các lớp kế toán trưởng, bồi dưỡng giám đốc... các chuyên ngành khoa giảng dạy.
- Ủng hộ có cơ sở khoa học đối với những việc do bên đối tác đề xuất với khoa.
- Các bộ môn chủ động mời các nhà khoa học trong và ngoài Học viện tham gia viết giáo trình, nhất là giáo trình các môn nghiệp vụ.
- Giao lưu thân mật với các đơn vị liên kết để tạo thuận lợi cho công việc.

  |