Tiếng Việt | English
  TỔ CHỨC
Khoa Tài chính doanh nghiệp
- Địa chỉ: Phòng 101 và 102, Nhà Hiệu bộ – Học viện Tài chính, Phường Đức Thắng - Bắc Từ Liêm – Hà Nội
- Điện thoại: 0438386867/101
- Hòm thư: khoatcdn@gmail.com
- Fax: .........
- Website: http://www.hvtc.edu.vn/khoataichinh
Khoa Tài chính doanh nghiệp (TCDN) thành lập năm 1963 với tên gọi ban đầu là Khoa Tài vụ - Kế toán. Các chuyên ngành thuộc Khoa quản lý và đào tạo lúc đó bao gồm: Tài vụ công nghiệp; Tài vụ XDCB; Tài vụ nông nghiệp; Tài vụ thương nghiệp; Kế toán công nghiệp; Kế toán XDCB; Kế toán nông nghiệp; Kế toán thương nghiệp.

1. Giới thiệu chung.

  • Khoa Tài chính doanh nghiệp (TCDN).
  • Địa chỉ liên hệ: Khoa TCDN, phòng 101 và 102, nhà Hiệu bộ- Học viện Tài chính – số 1 đường Lê Văn Hiến, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm – Hà Nội .
  • Điện thoại liên hệ: 0438386867 (máy lẻ 101)
  • Email: khoatcdn@gmail.com

2. Quá trình thành lập và phát triển.

Khoa Tài chính doanh nghiệp (TCDN) thành  lập năm 1963 với tên gọi ban đầu là Khoa Tài vụ - Kế toán. Các chuyên ngành  thuộc Khoa quản lý và đào tạo lúc đó bao gồm: Tài vụ công nghiệp; Tài vụ XDCB; Tài vụ nông nghiệp; Tài vụ thương nghiệp; Kế toán công nghiệp; Kế toán XDCB; Kế toán nông nghiệp; Kế toán thương nghiệp.

Đầu năm học 1966 - 1967, Khoa Tài vụ - Kế toán các ngành kinh tế quốc dân tách ra thành hai khoa: Khoa Tài vụ các ngành (gồm các bộ môn Tài vụ Công nghiệp, Tài vụ Nông nghiệp, Tài vụ Kiến thiết cơ bản (XDCB), Tài vụ Thương nghiệp), Khoa Kế toán các ngành (gồm các bộ môn: Kế toán Công nghiệp, Kế toán Nông nghiệp, Kế toán Thương nghiệp, Kế toán XDCB).

Từ học kỳ hai năm học 1972 - 1973, Khoa Tài vụ các ngành hợp nhất với Khoa Tài chính Ngân sách thành Khoa Tài chính.

Từ cuối năm học 1979 - 1980 Khoa Tài chính lại được tách ra thành lập hai Khoa là Khoa Tài chính các ngành kinh tế quốc dân - gọi tắt là Khoa Tài chính ngành (gồm bộ môn Tài chính Công nghiệp, Tài chính Nông nghiệp, Tài chính XDCB, Tài chính Thương nghiệp) và  Khoa Tài chính Ngân sách.

Tháng 9 năm 1990, Khoa Tài chính ngành tiếp nhận thêm hai bộ môn mới là Bộ môn Tiền tệ - Tín dụng và Bộ môn Cấp phát và Cho vay đầu tư XDCB; chuyên ngành Kho bạc được hình thành và được nhà trường giao cho khoa Tài chính ngành quản lý.

Từ tháng 8 năm 1992 Khoa Tài chính ngành tiếp nhận Bộ môn Bảo hiểm từ Khoa Tài chính Ngân sách. Các bộ môn trong Khoa được sắp xếp thành: Bộ môn TCDN, Bộ môn Tiền tệ - Tín dụng và Bộ môn Bảo hiểm.

Từ tháng 11 năm 1994, theo quyết định số 1152/TC/QĐ/TCCB của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Khoa Tài chính ngành được mang tên mới: Khoa Tài chính doanh nghiệp.

Tháng 2 năm 2000, Bộ môn Thị trường chứng khoán được tách ra từ Bộ môn TCDN.

Từ tháng 8/2001, cùng với sự ra đời của Học viện Tài chính, các Bộ môn Bảo hiểm, Thị trường chứng khoán và Tiền tệ - Tín dụng tách ra khỏi Khoa TCDN hình thành nên Khoa mới: Khoa Ngân hàng -Bảo hiểm; Khoa TCDN lúc này bao gồm 3 Bộ môn: TCDN; Kinh tế các ngành sản xuất và Quản lý kinh tế.

Từ đầu năm học 2003 -2004, Bộ môn Kinh tế các ngành sản xuất chuyển về Khoa Quản trị kinh doanh, Khoa TCDN tiếp nhận Bộ môn Phân tích TCDN từ khoa Kế toán chuyển sang.

Năm học 2004-2005, Bộ môn Quản lý kinh tế chuyển sang khoa Quản trị kinh doanh, Khoa TCDN tiếp nhận Bộ môn Định giá tài sản từ khoa Quản trị kinh doanh chuyển đến.

Hiện nay Khoa TCDN gồm có 3 bộ môn: TCDN, Phân tích TCDN; Định giá tài sản và kinh doanh bất động sản. Các bộ môn trong khoa hiện đang đảm nhiệm giảng dạy 08 môn học. Tính tại thời điểm tháng 10/2015, khoa TCDN đang trực tiếp quản lý 86 lớp với 3.200 sinh viên chính quy các chuyên ngành TCDN, Định giá tài sản và kinh doanh bất động sản cùng với 75 NCS thuộc 3 chuyên ngành TCDN, Định giá tài sản và Phân tích TCDN.

Hơn 50 năm qua, Khoa TCDN đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh. Từ chỗ ban đầu chỉ có không đến 10 người, đến nay (tại thời điểm tháng 10/2015) tổng số cán bộ giáo viên trong Khoa đã lên tới 46 người; trong đó có 44 giáo viên, với 05 Phó Giáo sư (11,4%), 9 giảng viên chính (20,4%), 17 Tiến sĩ (38,6%), 26 Thạc sỹ (59,1%); Số giáo viên có trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ của khoa là 43 người (tỷ lệ 97,7%). Khoa TCDN hiện có 15 giáo viên đang làm NCS (34%); trong đó, có 2 NCS tại nước ngoài. Đặc biệt, hiện nay khoa có 10 giáo viên có thể đảm nhiệm giảng dạy bằng tiếng Anh. Hàng năm, số sinh viên tốt nghiệp hệ đại học chính quy các chuyên ngành do khoa quản lý vào khoảng từ 600 - 800 người. Khoa đã tham gia đào tạo hàng vạn Thạc sĩ các chuyên ngành Tài chính – ngân hàng và Kế toán và gần 50 Tiến sĩ chuyên ngành Tài chính –Ngân hàng cho đất nước. Nhiều cựu sinh viên của khoa hiện đang đảm nhiệm những trọng trách trong bộ máy quản lý –lãnh đạo của đất nước, góp phần làm rạng danh truyền thống của Học viện Tài chính nói chung, và của khoa TCDN nói riêng.

3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn:

- Khoa TCDN có nhiệm vụ tham gia quá trình đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trình độ đại học và sau đại học về lĩnh vực tài chính – kế toán, góp phần thực hiện sứ mạng: ”Cung cấp các sản phẩm đào tạo và nghiên cứu khoa học Tài chính – Kế toán chất lượng cao cho xã hội” của Học viện Tài chính.

+ Về đào tạo, bồi dưỡng:

- Chuyên ngành đào tạo: Khoa TCDN hiện đang đào tạo 2 chuyên ngành: Tài chính doanh nghiệp và Định giá tài sản & kinh doanh bất động sản ở cả 3 cấp độ đào tạo: Cử nhân, Thạc sỹ, Tiến sỹ tại Học viện Tài chính và tại các cơ sở liên kết đào tạo với Học viện Tài chính, tại nước CHDCND Lào và vương quốc Căm Pu chia

- Khoa TCDN tham gia đào tạo kế toán trưởng, bồi dưỡng  kiến thức về TCDN, về Định giá tài sản, Kinh doanh bất động sản cho các Giám đốc và các cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp, các tập đoàn và Tổng công ty nhà nước.

+ Về nghiên cứu khoa học:

- Cán bộ, giáo viên của khoa đã chủ trì và tham gia hàng chục đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, Ngành; Chủ trì và tham gia hàng trăm đề tài cấp Học viện và cấp khoa.

- Hàng năm, giáo viên các bộ môn trong khoa còn hướng dẫn từ 40 – 50 công trình dự thi NCKH của sinh viên; trong đó, nhiều công trình vinh dự đạt giải cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo .

4. Ban chủ nhiệm Khoa TCDN:

Chức vụ

Học và tên

Học vị

ĐT

Email

Trưởng khoa

Bùi Văn Vần

PGS.,TS

0438385747

vantcdn@gmail.com  buivanvan@hvtc.edu.vn

Phó trưởng khoa

Nghiêm Thị Thà

PGS.,TS

0437542502

nghiemhvtc@gmail.com

Phó trưởng khoa Vũ Văn Ninh PGS.,TS

0437556261

vuvanninh@yahoo.com
Phó trưởng khoa Đoàn Hương Quỳnh PGS.,TS

0438389339

quynhdh75tcdn@yahoo.com

Trưởng khoa:

PGS.,TS. Bùi Văn Vần

Phó trưởng khoa:

PGS.,TS. Nghiêm Thị Thà

PGS.,TS. Vũ Văn Ninh

PGS.,TS. Đoàn Hương Quỳnh

5. Hội đồng khoa học Khoa:

+ PGS,TS. Bùi Văn Vần - Chủ tịch

+ PGS,TS. Nghiêm Thị Thà, PCT kiêm Thư ký

+ TS. Nguyễn Minh Hoàng – Uỷ viên

+ PGS,TS. Vũ Văn Ninh - Uỷ viên

+ PGS,TS. Đoàn Hương Quỳnh - Uỷ viên

6. Giới thiệu về các chuyên ngành đào tạo của khoa

6.1. CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp là chuyên ngành thuộc ngành Tài chính - Ngân hàng. Sự ra đời của chuyên ngành gắn với sự hình thành, phát triển của Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội (nay là Học viện Tài chính) và xuất phát từ đòi hỏi của công tác quản lý tài chính trong các doanh nghiệp.

Theo cách hiểu đơn giản nhất, có thể hình dung: để hình thành và đi vào hoạt động, mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền tệ nhất định để xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, thiết bị, dự trữ nguyên vật liệu,.. nhằm đáp ứng quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi đó, hàng loạt các câu hỏi sẽ được đặt ra như: doanh nghiệp cần bao nhiêu tiền để đầu tư vào các máy móc, thiết bị và vật tư kể trên? Số tiền đó được huy động từ đâu và bằng cách nào? Số tiền đó sẽ được đầu tư và sử dụng như thế nào? số tiền thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được phân phối như thế nào? v.v. Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, sự phát triển đa dạng các mối quan hệ tài chính, sẽ nảy sinh nhiều câu hỏi khác liên quan đến quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp chính là chuyên ngành sẽ đào tạo ra nguồn nhân lực tài chính – các cán bộ làm công tác quản lý tài chính trong các doanh nghiệp, để giúp các doanh nghiệp giải quyết các câu hỏi đặt ra kể trên.

Những sinh viên của chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp sẽ trở thành một nhà quản trị tài chính trong doanh nghiệp, hoặc cao hơn là một giám đốc tài chính doanh nghiệp (CFO- Chief Financial Officer). Giám đốc tài chính (CFO) có thể được hiểu như người đứng đầu bộ máy quản lý tài chính của doanh nghiệp, là người chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc về tổ chức công tác quản lý tài chính trong doanh nghiệp. Công việc của một CFO có thể được gói gọn lại trong việc chịu trách nhiệm đưa ra ba quyết định tài chính chủ yếu và tổ chức thực hiện các quyết định tài chính của doanh nghiệp, đó là: Quyết định đầu tư vốn; Quyết định huy động vốn và Quyết định phân phối lợi nhuận. Mục tiêu chung để đưa ra các quyết định tài chính nêu trên có thể tóm lược trong một cụm từ đó là “Tối đa hóa giá trị”, nghĩa là các quyết định đầu tư, quyết định huy động vốn, quyết định phân phối lợi nhuận phải dẫn đến kết quả là làm gia tăng giá trị tối đa phần vốn đầu tư của chủ sở hữu doanh nghiệp.

Để thực hiện được chức năng và nhiệm vụ đó, giám đốc tài chính là người phải tổ chức bộ máy quản lý tài chính, tiến hành các công việc nghiên cứu, phân tích và xử lý các các vấn đề thuộc lĩnh vực tài chính trong doanh nghiệp. Giám đốc tài chính cũng là người phải xây dựng các kế hoạch tài chính như kế hoạch về nhu cầu vốn, kế hoạch huy động vốn và kế hoạch khai thác, sử dụng vốn sao cho có hiệu quả; thực hiện dự báo rủi ro và tổ chức quản trị rủi ro tài chính trong quá trình doanh nghiệp của mình hoạt động. Ngoài ra, Giám đốc tài chính còn phải kiểm soát việc sử dụng tài sản trong công ty, tránh xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí và không đúng mục đích…

Tóm lại, chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp là chuyên ngành đào tạo sinh viên để trở thành nhà quản trị tài chính và cao hơn là giám đốc tài chính trong doanh nghiệp.

  • Mục tiêu đào tạo của chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp

Mục tiêu đào tạo của chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp không chỉ là những Cử nhân có kiến thức cơ bản về Tài chính doanh nghiệp, mà còn phải có kiến thức chuyên sâu, khả năng ứng dụng một cách sáng tạo về công tác quản trị tài chính trong doanh nghiệp. Sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành tài chính doanh nghiệp khi ra trường sẽ có những kỹ năng sau:

- Có khả năng phân tích, đánh giá các quy luật kinh tế, các mối quan hệ tài chính, tư vấn cho doanh nghiệp trong việc lựa chọn, đưa ra các quyết định tài chính;

- Có khả năng nhận diện rủi ro, nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; nhận diện được đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp;

- Có khả năng thiết lập hệ thống quản trị rủi ro tài chính, quản trị dòng tiền, dự báo tài chính cho doanh nghiệp, xây dựng cơ chế quản lý tài chính, ngoài ra còn có thể định giá tài sản, định giá doanh nghiệp;

- Có đạo đức nghề nghiệp, hiểu biết và tôn trọng pháp luật; có khả năng tư duy khoa học và làm việc độc lập, làm việc nhóm;

- Biết sử dụng thành thạo các phương tiện và phần mềm hỗ trợ để phân tích tài chính doanh nghiệp, lập kế hoạch tài chính, lập và thẩm định dự án đầu tư. Ngoài ra, sinh viên có khả năng sử dụng tiếng Anh để làm việc trong môi trường hội nhập quốc tế, sử dụng các tài liệu nước ngoài để phục vụ cho việc phân tích và tư vấn tài chính doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

  • Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp

          Sinh viên được đào tạo chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp, sau khi tốt nghiệp ra trường sẽ đạt được chuẩn đầu ra như sau:

  • Có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, có ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
  • Sinh viên tốt nghiệp có trình độ chuyên môn sâu về lĩnh vực tài chính doanh nghiệp và đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực tài chính cho mọi thành phần kinh tế, các doanh nghiệp, các Tập đoàn kinh tế;
  • Biết sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp và trong công tác chuyên môn, đáp ứng đòi hỏi của các doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế;
  • Biết sử dụng thành thạo máy tính, các phầm mềm phân tích tài chính, biết làm việc độc lập và làm việc theo nhóm để hoàn thành tốt công việc được giao;
  • Có khả năng độc lập trong nghiên cứu, phân tích tình huống và dự báo rủi ro trong quá trình quản trị tài chính của doanh nghiệp;
  • Có đạo đức nghề nghiệp, am hiểu và tôn trọng pháp luật.
  • Về vị trí công tác sau khi tốt nghiệp ra trường

Tính đến nay (2015), Học viện Tài chính đã có trên 50 năm đào tạo chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp với hàng vạn sinh viên đã tốt nghiệp các hệ đào tạo Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ. Nhiều cựu sinh viên của chuyên ngành tài chính doanh nghiệp hiện đang đảm nhiệm các vị trí then chốt ở các Cơ quan quản lý nhà nước, các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty và các doanh nghiệp. Nhiều người đang giữ các trọng trách như: Bộ trưởng, Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch tỉnh, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Kho Bạc nhà nước, Cục Trưởng Cục Thuế, Tổng giám đốc hoặc Kế toán Trưởng các Tổng công ty. Sinh viên được đào tạo chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp ra trường có khả năng lựa chọn nơi làm việc là rất rộng lớn, cụ thể có thể đảm nhiệm ở nhiều vị trí công tác khác nhau như sau:

- Đối với khu vực quản lý nhà nước: Sinh viên tốt nghiệp ra trường có thể làm việc ở Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, Cục Tài chính doanh nghiệp, Sở Tài chính doanh nghiệp, Cục và các Chi cục thuế, Kho Bạc nhà nước, các ngân hàng thương mại, các Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ Chính sách tài chính,.. tại các Bộ, Ban, Ngành.

- Đối với khu vực doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp phi tài chính): Sinh viên tốt nghiệp ra trường có thể làm việc tại Ban Tài chính tại các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty 90 và Tổng công ty 91; làm việc tại Phòng Tài chính- Kế toán tại các công ty, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

- Đối với các doanh nghiệp tài chính như Ngân hàng, Công ty Bảo hiểm, công ty chứng khoán, Quỹ đầu tư, Công ty tài chính: Sinh viên tốt nghiệp ra trường có thể xin việc làm chuyên viên thẩm định dự án, chuyên viên tín dụng, thanh toán quốc tế và triển khai các dịch vụ tài chính ở các ngân hàng; chuyên viên ở các công ty bảo hiểm và các quỹ đầu tư; các nhà môi giới trên thị trường chứng khoán; chuyên gia tư vấn tài chính ở các công ty chứng khoán, công ty kiểm toán v.v.

  • Về triển vọng và cơ hội nghề nghiệp

             Thực tế chứng minh rằng, vai trò của Giám đốc tài chính hoàn toàn khác với Kế toán trưởng; có rất nhiều nhiệm vụ của giám đốc tài chính mà Kế toán trưởng không thể thực hiện được. Ở các nước phát triển, Giám đốc tài chính là một chức danh không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp. Trong xu thế phát triển của kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển của thị trường tài chính ngày càng mạnh mẽ, đối với những công ty có quy mô lớn, do các nghiệp vụ tài chính khá đa dạng, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính diễn ra thường xuyên, nên các công ty này thường bổ nhiệm một Nhà quản trị tài chính chuyên trách được gọi là Giám đốc tài chính- CFO. Giám đốc tài chính là một thành viên trong Ban Giám đốc của công ty và chịu trách nhiệm toàn bộ các vấn đề về quản lý tài chính của doanh nghiệp; cụ thể giám đốc tài chính sẽ trực tiếp tổ chức, chỉ đạo và điều hành các công việc của bộ phận kế toán và công việc của bộ phận tài chính trong doanh nghiệp. Giám đốc tài chính giữ vị trí vô cùng quan trọng trong việc duy trì nền tảng tài chính vững mạnh giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Giám đốc tài chính sẽ tham gia sâu vào việc hoạch định các chính sách và các chiến lược tài chính, đồng thời xây dựng kế hoạch tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp. Ở thời điểm khủng hoảng và suy thoái kinh tế hiện nay, giữa những khó khăn tài chính ở cả môi trường kinh tế vĩ mô lẫn trong phạm vi doanh nghiệp, Giám đốc tài chính có vai trò quyết định trong chiến lược kiểm soát dòng tiền, quản trị rủi ro, từng bước hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khủng hoảng.

          Việt Nam đang trong quá trình hội nhập, với xu thế hội nhập kinh tế - tài chính ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ với các quốc gia trên thế giới; cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính, sự mở rộng và phát triển mạnh mẽ của các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các ngân hàng, công ty bảo hiểm trong nước và nước ngoài vào Việt Nam, vai trò của giám đốc tài chính doanh nghiệp đang dần được khẳng định và coi trọng đúng mức trong bộ máy quản trị doanh nghiệp, nhu cầu nguồn nhân lực quản trị tài chính doanh nghiệp hiện nay là rất lớn. Đây chính là cơ hội tiềm năng để các sinh viên chuyên ngành TCDN chẳng những không lo bị thất nghiệp mà còn có thêm cơ hội để tiếp cận với những đỉnh cao của một nghề nghiệp thuộc vào loại phức tạp nhất trong kỹ năng quản trị doanh nghiệp.

6.2. CHUYÊN NGÀNH ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN & KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN

          Chuyên ngành Định giá tài sản và kinh doanh BĐS chính thức được thành lập và đào tạo tại Học viện Tài chính năm 2003, theo yêu cầu cấp bách của nhà nước về công tác quản lý giá, theo nhu cầu tự thân của các doanh nghiệp và cá nhân trong bước phát triển mới của kinh tế thị trường ở nước ta.

          Xây dựng cơ chế thị trường là để thị trường tự định giá, là để tận dụng tính độc lập, khách quan của thị trường. Nhưng giá cả thị trường không phải lúc nào cũng là giá đúng, không phải lúc nào cũng đủ tin cậy để ra các quyết định.  

       Nhà nước luôn là khách hàng lớn nhất của các doanh nghiệp. Mỗi ngày có hàng vạn tài sản được đầu tư, mua sắm nhằm trang bị cho các cơ quan, công sở, cho nhu cầu an ninh, quốc phòng, kinh tế, xã hội... Nhu cầu thẩm định mức giá hợp lý của các tài sản này nhằm chống thất thoát tiền thuế của dân là rất lớn.

          Hàng vạn tổ chức, cá nhân thành đạt và nổi lên một cách ngoạn mục nhờ vào chứng khoán hay bất động sản. Nhưng cũng không ít cá nhân và tổ chức trở nên khánh kiệt, phá sản do bong bóng tài sản gây nên. Giá cả của hầu hết hàng hóa, dịch vụ nhiều khi thái quá. Thị trường đôi khi hưng phấn quá mức, lúc khác lại bi quan quá mức. Cơ chế thị trường, mở ra nhiều cơ hội, nhưng mỗi tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân phải cập nhật được những kiến thức mới nhằm dự phòng và chống đỡ  một cách tốt nhất với những rủi ro mới nẩy sinh trong cơ chế thị trường. Chuyên ngành Định giá tài sản và kinh doanh bất động sản tại Học viện Tài chính ra đời trong bối cảnh đó.

  • Mục tiêu đào tạo của chuyên ngành

            Chuyên ngành Định giá tài sản và kinh doanh bất động sản tại Học viện Tài chính được thiết lập nhằm cung cấp cho xã hội những cử nhân thành thạo, có trình độ chuyên nghiệp về định giá tài sản và kinh doanh bất động sản:

            - Sinh viên tốt nghiệp có thể sử dụng các phương pháp có cở sở khoa học và thực tiễn để đánh giá và định giá các bất động sản, máy móc thiết bị ít có giao dịch trên thị trường.

          - Có thể xác định mức giá hợp lý của các tài sản thế chấp, đánh giá mức độ mạo hiểm, độ tin cậy và tính khả thi của các dự án đầu tư.

          - Đánh giá được tính chất "ảo", tính đầu cơ, mức độ "bong bóng" và tính "bầy đàn" về giá cả diễn ra trên thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản.

          - Đánh giá và định giá được mức giá hợp lý của một doanh nghiệp, cổ phiếu và thương hiệu của doanh nghiệp đó.

          -  Tư vấn cho các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân ra các đưa ra các quyết định đầu tư, mua sắm hợp lý, giảm thiểu rủi ro đến mứcthấp nhất.

          - Có năng lực quản trị kinh doanh, maketing, môi giới, quản lý sàn giao dịch và thẩm định tính khả thi của các dự án đầu tư vào bất động sản.

          - Bằng cử nhân của chuyên ngành là một trong những điều kiện bắt buộc để sinh viên sau khi ra trường được dự thi cấp thẻ thẩm định viên về giá.  

  • Chuẩn đầu ra của chuyên ngành Định giá tài sản và kinh doanh BĐS

          Bằng tốt nghiệp chuyên ngành Định giá tài sản và kinh doanh BĐS tại Học viện Tài chính yêu cầu chuẩn đầu ra như sau:

  • Có quan điểm chính trị vững vàng, có ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Có đạo đức nghề nghiệp, am hiểu và tôn trọng pháp luật.
  • Có chuyên môn sâu về Định giá tài sản và kinh doanh BĐS và đáp ứng được yêu cầu nguồn nhân lực của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và có khả năng hành nghề độc lập.
  • Biết sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp và trong công tác chuyên môn.
  • Biết sử dụng thành thạo máy tính, biết làm việc độc lập và làm việc theo nhóm để hoàn thành tốt công việc được giao.
  • Có khả năng phân tích tình huống và đánh giá rủi ro nghề nghiệp và có khả năng nghiên cứu khoa học chuyên ngành.
  • Cơ hội nghề nghiệp chuyên ngành Định giá tài sản và kinh doanh BĐS

Cho đến nay có thể chủ quan để khẳng định rằng: hầu hết sinh viên chuyên ngành Định giá tài sản và kinh doanh BĐS của Học viện Tài chính đã ra trường đều có việc làm đúng ngành nghề đào tạo, được xã hội thừa nhận và đánh giá cao. Sinh viên tốt nghiệp có thể đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau trong một tổ chức.

- Đối với khu vực quản lý nhà nước: có các Bộ, các Sở Tài nguyên và Môi trường;  các  Bộ, Sở Xây dựng;  Bộ Tài chính, Cục quản lý giá Bộ Tài Chính, Viện nghiên cứu thị trường giá cả, Ủy Ban chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ chí minh, Trung tâm lưu ký chứng khoán... Đó là những nơi có công tác quản lý nhà nước về hoạt động về định giá tài sản, máy móc thiết bị, bất động sản, kinh doanh bất động sản và đánh giá doanh nghiệp.

- Đối với khu vực doanh nghiệp :  các công ty thẩm định giá chuyên nghiệp; bộ phận thẩm định tài sản thế chấp và thẩm định tín dụng trong các ngân hàng; các công ty kiểm toán;  các doanh nghiệp kinh doanh, quản lý, môi giới bất động sản, Tổng công ty kinh doanh vốn nhà nước, công ty mua bán nợ...

Ngoài ra, nếu thực sự say sưa, tâm huyết nghề nghiệp, với những kiến thức và kỹ năng được đào tạo, sinh viên ra trường hoàn toàn có thể tự trả lương và tự gánh chịu rủi ro cho mình mà không cần phải đi tìm việc ở bất kỳ một doanh nghiệp hay tổ chức nào khác. Đây là điều đã góp phần quan trọng làm nên "Thương hiệu" và đóng góp vào "giá trị" của chuyên ngành Định giá tài sản và kinh doanh bất động sản của Học viện Tài chính.

7. Thành tích thi đua của khoa.

Do những đóng góp to lớn vào sự phát triển của ngành Tài chính và sự nghiệp giáo dục đào tạo, khoa TCDN đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:

- Tập thể khoa được tặng thưởng Huân chương lao động hạng 3 năm 2004 và thưởng Huân chương lao động hạng 2 năm 2010; 2 lần được tặng Cờ thi đua của Bộ Tài chính vào các năm học 2005 -2006 và 2008 – 2009.

- Hai Bộ môn: TCDN, Phân tích TCDN và 5 giáo viên của Khoa đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng 3. Ngoài ra, nhiều CBGV của khoa được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo,.v.v.

- 01 giáo viên của khoa được trao tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân; 5 giáo viên khác được trao tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú; 1 giáo viên của khoa được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc.