Học viện Tài Chính




Tóm tắt đề tài NCKH: “Lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2012: Xu hướng từ năm 2013 - 2015”

Ngày phát hành: 30/12/2013 - 10:03 Lượt xem: 42397 Đang xem:

1.     Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang là một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong những năm qua nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu khá nổi bật như tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao, giảm tỷ lệ đói nghèo trong dân cư xuống mức thấp, đời sống của người dân đạt được nhiều cải thiện so với cách đây hơn 20 năm. Tuy nhiên thực tế cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như tình trạng lạm phát cao, tình trạng thâm hụt thương mại và nợ chính phủ cũng như nợ quốc gia tăng cao. Đặc biệt khó khăn lớn hiện nay đối với nền kinh tế Việt Nam chính là tình trạng lạm phát cao đã bắt đầu có xu hướng quay trở lại mức hai con số sau một thời gian dài ngừng ở mức một con số. Một số dự báo thống kê gần đây của ngân hàng phát triển châu Á ADB, hay ngân hàng thế giới WB đều dự báo rằng con số lạm phát của Việt Nam năm nay chắc chắn sẽ vượt mức 11%, cụ thể là sẽ vào khoảng từ 12% cho đến 13%. Tuy nhiên con số lạm phát thực tế còn có thể cao hơn.

 Tình trạng lạm phát đã có những tác động rất lớn không chỉ đến đời sống của người dân mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế. Cụ thể lạm phát cao làm cho suy giảm chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam rõ rệt, điều này có thể so sánh với nước láng giềng Trung Quốc, mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thấp hơn Trung Quốc nhưng tỷ lệ lạm phát của Việt Nam lại cao hơn so với Trung Quốc khiến cho thu nhập bình quân thực tế của người Trung Quốc cao hơn nhiều so với Việt Nam, cụ thể ở đây là gấp 5 lần (nếu tính theo sức mua tương đương PPP). Không những vậy tình trạng lạm phát cao còn đẩy các doanh nghiệp Việt Nam vào tình hình sản xuất khó khăn do giá các nguyên vật liệu đầu vào tăng cao và sự sụt giảm từ doanh thu thực tế do tình hình lạm phát. Bên cạnh đó lạm phát cao còn làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội và làm tiềm ẩn các nguy cơ bất ổn xã hội.

Xuất phát từ tình hình trên tác giả đã chọn đề tài “Lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2012: Xu hướng từ năm 2013 - 2015” làm đề tài nghiên cứu cấp Học viện

2.     Mục đích nghiên cứu và nội dung .

2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là trước hết giải quyết mục đích chung như các nghiên cứu khác về lạm phát đó là nghiên cứu các nguyên nhân, thực trạng và giải pháp cho lạm phát nói chung dựa trên các cơ sở lý thuyết kinh tế mang tính phi chính thống so với các lý thuyết kinh tế hiện nay đang được sử dụng. Đồng thời thông qua đó áp dụng thực tế vào tình hình của Việt Nam để đưa ra các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam trong giai đoạn này.

Để thực hiên tốt mục đích nghiên cứu trên thì đề tài cần phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể là:

Thứ nhất: Nghiên cứu, so sánh và đối chiếu các lý thuyết kinh tế về lạm phát để trên cơ sở đó có sự lời giải tối ưu cho các nguyên nhân dẫn đến lạm phát.

Thứ hai: Dựa trên các điều kiện hoàn cảnh thực tế của Việt Nam để lý giải nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng lạm phát của Việt Nam hiện nay.

Thứ ba: Là đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện việc kiềm chế lạm phát ở Việt Nam và phải trên cơ sở phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam

2.2. Nội dung:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về lạm phát

 

Trong chương 1  đề tài đã đưa ra được những lý thuyết cơ sở nhất làm nền tảng để tìm hiểu kỹ bản chất của tiền tệ, đồng thời qua đó hiểu được bản chất của lạm phát. Bởi lẽ chỉ có hiểu được bản chất của lạm phát ta mới có thể tìm ra được cách kiềm chế lạm phát một cách đúng đắn và hiệu quả. Sự thất bại trong việc phân biệt giữa tình trạng lạm phát và tình trạng giá cả trung bình tăng cao một cách phổ biến đã gây nên việc đưa ra những chính sách không hợp lý trong điều hành kinh tế vĩ mô và việc kiềm chế lạm phát không đạt được hiểu quả cao. Hơn nữa rất nhiều nhà kinh tế học hiện đại còn cho rằng khi kiềm chế lạm phát phải có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, trong hai mục tiêu về lạm phát và tăng trưởng kinh tế ta chỉ có thể chọn một trong hai mục tiêu. Vấn đề ở đây là dựa trên nền tảng lý thuyết cơ bản ta có thể chứng minh rằng việc kiềm chế lạm phát vẫn có thể thực hiện được mà không nhất thiết phải đánh đổi với mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Đồng thời ta cũng có thể hướng đến một nền kinh tế tăng trưởng bền vững và ổn định.

          Chương 2: Thực trạng lạm phát và các giải pháp kiềm chế của Việt Nam giai đoạn 2007-2012

 

Bằng việc kết hợp với các cơ sở lý thuyết cũng như tình hình thực tiễn của Việt Nam ta đã phân tích được bản chất của quá trình lạm phát ở Việt Nam. Bên cạnh đó việc phân tích này không chỉ cho thấy bản chất của lạm phát Việt Nam mà ta còn hiểu cơ chế hình thành nền lạm phát thông qua lượng cung tiền từ phía các ngân hàng thương mại và lượng cầu tiền lớn từ phía các thị trường tài chính. Chính sự kết hợp giữa lượng cung tiền và lượng cầu tiền này đã là yếu tố chính không chỉ gây nên tình trạng lạm phát ở Việt Nam mà nó còn góp phần dẫn đến tình trạng phá giá tiền tệ của Việt Nam trong thời gian qua. Việc nghiên cứu lượng cung tiền và cầu tiền dựa trên cơ sở lý thuyêt trên cũng góp phần giúp ta giải thích được sự kém hiệu quả trong các chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ trong thời gian qua. Đồng thời tạo nền tảng cho việc đưa định hướng và cơ sở giải pháp trong thời gian tới nhằm kiềm chế lạm phát tại Việt Nam. 

Chương 3: Dự báo kinh tế Việt Nam và đề xuất giải pháp kiềm chế lạm phát và các điều kiện thực hiện

Trong chương 3, sau khi đã chỉ ra được nguyên nhân và bản chất lạm phát của Việt Nam trong thời gian qua, đó là sự cung ứng tiền quá mức cần thiết so với mức hấp thu của nền kinh tế. Đề tài đưa ra những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết bài toán lạm phát và giải quyết luôn bài toán về sự phân bố nguồn lực về vốn không hiệu quả giữa các thị trường với nhau như:

 Nhóm giải pháp mang tính chất ngắn hạn: (i) Sử dụng các công cụ lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng, (ii) Nên tăng lãi suất cho vay USD, giảm lãi suất cho vay VND để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam,(iii) Cần điều chỉnh tỷ giá VND/USD để đảm bảo cho VND trở về đúng với giá trị thực của nó

Nhóm giải pháp mang tính chất dài hạn: (i) Tiến hành phân tích thị trường: Kiểm soát lượng cung tiền và cầu tiền chặt chẽ hơn, thị trường hàng hóa, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường ngoại hối, thị trường bất động sản, thị trường phái sinh, (ii) Hệ thống ngân hàng, (iii) Đối với các thị trường tài chính

Bên cạnh đó đề tài cũng đề xuất một số phương pháp nghiên cứu tiếp cận kinh tế khác bên cạnh các phương pháp nghiên cứu truyền thống hiện nay nhằm tìm ra cách xây dựng các mô hình kinh tế hiệu quả và phù hợp đối với điều kiện Việt Nam.

3. Những đóng góp của đề tài

- Thứ nhất: Áp dụng các phương pháp luận mang tính phi chính thống trong việc tìm ra bản chất của hiện tượng lạm phát,

- Thứ hai: Vận dụng các quy luật kinh tế vào trong các nghiên cứu và phân tích kinh tế thay vì việc sử dụng các mô hình kinh tế và đưa ra các định hướng chung cần thiết để giải quyết tình trạng lạm phát.

- Thứ ba: Dựa trên các định hướng chung để giải quyết bài toán lạm phát thì đưa ra các giải pháp phù hợp với điều kiện của Việt Nam để kiềm chế lạm phát.

 

Nguồn: Ban Quản lý Khoa học
Chat Facebook
Messenger
Gọi điện
Email