Tìm
English
Thứ hai, 02/02/2026 - 14:15

Bản lĩnh chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam trong trong gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng - Những bài học lịch sử
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua (1930-2026), Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhìn lại lịch sử lãnh đạo cách mạng, hiểu sâu sắc bản lĩnh chính trị của Đảng nhất là trong những thử thách mang tính bước ngoặt, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm quý báu, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đối với Đảng và dân tộc ta khi bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

1. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sự lựa chọn của lịch sử

Sinh cơ, lập nghiệp trên vùng đất với vị trí địa chính trị quan trọng bậc nhất châu Á, dân tộc Việt Nam từ sớm đã phải đối diện với thiên tai, giặc dã. Qua nhiều di chỉ khảo cổ được phát hiện cho thấy, ngay từ thuở bình minh của lịch sử, cha ông ta đã phải cầm vũ khí để bảo vệ lãnh thổ, sự sống của mình. Với vị trí địa chiến lược hết sức quan trọng, nơi giao thoa của nhiều luồng văn hóa, nơi tụ cư của nhiều tộc người, đồng thời cũng là nơi trung chuyển, giao thương của nhiều khu vực trên thế giới nên lịch sử dân tộc Việt Nam đã phải trải qua những giai đoạn, những chặng đường chưa từng thấy trong lịch sử bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Thực tế đã chứng minh, trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã từng đứng trước và đánh thắng những kẻ thù khổng lồ với sức mạnh vô địch, áp đảo và vô cùng tàn bạo, tưởng chừng không thể chống đỡ nổi như 10 năm chống quân đội Tần Thủy Hoàng (218 TCN-208 TCN), 1.117 năm chống các triều đại phương Bắc xâm lược (thời kỳ Bắc thuộc từ năm 179 TCN đến năm 938), ba lần chống quân Mông Nguyên (1257-1258, 1284-1285, 1287-1288)…

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và từng bước bình định Việt Nam. Trước một kẻ thù có tàu to súng lớn, đi trước chúng ta cả một thời đại phát triển, cộng với những sai lầm của triều đình Nhà Nguyễn, đất nước ta đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, nhân dân ta phải chịu thân phận nô lệ. Nhiều khuynh hướng yêu nước với biết bao máu của các thế hệ cha ông đã đổ nhưng Việt Nam vẫn chìm trong tăm tối, bế tắc về giai cấp lãnh đạo và đường lối cứu nước. Chính trong bối cảnh ấy, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước, gắn công cuộc giải phóng dân tộc và phát triển xã hội Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết khoa học nhất, cách mạng nhất, nhân văn nhất dẫn dắt, soi đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam. Bằng trí tuệ đặc biệt, nghị lực phi thường và khát vọng giành độc lập cho dân tộc Việt Nam luôn cháy bỏng, Người đã chuẩn bị mọi mặt cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam; là kết quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, gắn liền với tư tưởng, bản lĩnh chính trị và công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Từ đây cách mạng Việt Nam được đặt trong quỹ đạo cuộc cách mạng vô sản, thực hiện chân lý lớn nhất của thời đại là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng hoàn toàn xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Từ ngày 6/1-7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức tại Hong Kong (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản. (Ảnh: Tranh tư liệu/TTXVN)

2. Bản lĩnh chính trị -  một trong trong những nhân tố cốt lõi tạo nên sức sống, uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bản lĩnh chính trị của Đảng là tổng hòa các phẩm chất chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức được hình thành, nuôi dưỡng, trui rèn, vững vàng vượt qua qua mọi thử thách, hiểm nguy. Bản lĩnh chính trị là một trong trong những nhân tố cốt lõi tạo nên sức sống, uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng.

Bản lĩnh chính trị của Đảng  trước hết thể hiện ở sự kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyệt đối trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; không dao động trước những biến động của tình hình trong nước và quốc tế. 

Thứ hai, trong suốt quá trình lãnh đạo, bản lĩnh chính trị của Đảng còn thể hiện ở việc Đảng luôn giữ vững tính độc lập, tự chủ trong tư duy và đường lối, không rập khuôn, giáo điều, không lệ thuộc vào bất kỳ mô hình phát triển nào. Trong những biến động của lịch sử, đối mặt với khó khăn ngặt nghèo, Đảng thể hiện trình độ, khả năng phân tích, dự báo tình hình chuẩn xác từ đó nâng cao năng lực đưa ra quyết sách đúng đắn, kịp thời.

Thứ ba, bản lĩnh chính trị của Đảng còn thể hiện ở khả năng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Nhờ có đổi mới, sáng tạo, năng động từ tư duy – chính sách – thực tiễn, Đảng thực sự là lực lượng trí tuệ, tiên phong, đạo đức, văn minh nhất, là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong gần một thế kỷ qua mà không có một lực lượng nào có thể thay thế được.

Thứ tư, bản lĩnh chính trị của Đảng còn thể hiện trong mối quan hệ máu thịt với Nhân dân, coi Nhân dân là gốc, là chủ thể của mọi đường lối, chính sách. Nhân dân nuôi dưỡng bản lĩnh chính trị của Đảng và Đảng vì nhân dân mà ngày càng thêm bồi dưỡng bản lĩnh chính trị vững vàng.

Chính những yếu tố này đã tạo nên sức mạnh nội sinh, sức sống bền vững, uy tín và năng lực lãnh đạo, giúp Đảng vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam 96 năm qua đã chứng minh sinh động điều đó.

3. Bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong những bước ngoặt của lịch sử dân tộc

Ngay từ khi ra đời, Đảng đã xác định mục tiêu sống còn là phải xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, trở thành một quốc gia độc lập, tự do tiến lên xây dựng chế độ xã hội mới. Trong 15 năm (1930-1945), cho dù gặp vô vàn hiểm nguy, gian khổ, chịu rất nhiều tổn thất, song với sứ mệnh cao cả trước Tổ quốc và nhân dân, Đảng luôn thể hiện vai trò lãnh đạo, bản lĩnh vững vàng không thể thay thế, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn để  giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc giai cấp; thúc đẩy thời cơ, chớp thời cơ, có phương pháp cách mạng đúng đắn làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất”. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập tự do cho dân tộc, đưa nhân dân ta thoát khỏi thân phận nô lệ, trở thành người làm chủ đất nước, đồng thời kiến tạo nền dân chủ mới, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là hiện thân của sức mạnh, trí tuệ, bản lĩnh của Đảng với tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, sẵn sàng hy sinh với quyết tâm  “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải lấy lại quyền độc lập cho dân tộc” như lời hiệu triệu của Bác Hồ. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám vì thế  là một thắng lợi mang tính bước ngoặt, có ý nghĩa lịch sử và mang tính thời đại sâu sắc.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống yêu nước nồng nàn và ý chí quật cường của toàn thể nhân dân (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Để bảo vệ độc lập, tự do, thống nhất, xây dựng chế độ mới, trong 30 năm không ngừng nghỉ (1945-1975), Đảng đã thể hiện bản lĩnh chính trị kiên cường, dẫn dắt toàn dân tộc vượt qua tình thế hiểm nghèo “nghìn cân treo sợi tóc”, đánh thắng các kẻ thù lớn mạnh với sức mạnh quân sự, kinh tế, tài chính vượt trội là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính” phản ánh tư duy độc lập, tự chủ và niềm tin chiến lược vào sức mạnh của Nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm (1945-1954) đã làm nên Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã phá vỡ thành trì của chủ nghĩa thực dân và đế quốc với sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân cũ, mở ra niềm hy vọng cho các dân tộc thuộc địa trên hành trình giành độc lập dân tộc.  Bằng chứng là trước trận Điện Biên Phủ, trong suốt 500 năm lịch sử chế độ thuộc địa, chưa có dân tộc thuộc địa nào đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của một đế quốc lớn. Tác giả Jules Roy, nhà báo kiêm sử gia, nguyên đại tá quân viễn chinh Pháp, trong cuốn sách “Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp” đã nhận xét: “Trên toàn thế giới, trận Waterloo cũng ít có tiếng vang hơn. Điện Biên Phủ thất thủ gây ra một sự kinh hoàng ghê gớm. Đó là một trong những thất bại lớn của phương Tây, báo hiệu sự tan rã của các thuộc địa và sự cáo chung của một nền cộng hòa. Tiếng sấm của sự kiện Điện Biên Phủ vẫn còn âm vang”(1).

Chiều 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), nhân dân ta phải đương đầu với kẻ thù không cân sức: một siêu cường hùng mạnh nhất với một quân đội đánh bại nhiều đối thủ nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm và hiếu chiến nhất. Cho đến trước khi xâm lược Việt Nam, Hoa Kỳ đã trải qua khoảng 150 cuộc chiến với hàng ngàn chiến dịch, hàng vạn trận đánh (từ năm 1776 đến 1953). Trong suốt quãng thời gian dài đó, quân đội Hoa Kỳ chưa thua trong bất kỳ cuộc chiến nào. Nhưng với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam làm nên bản hùng ca Đại thắng mùa xuân rạng rỡ. Đây là mốc son chói lọi, thể hiện rõ bản lĩnh, trí tuệ và đường lối lãnh đạo kiên định của Đảng trong những thời khắc mang tính sống còn của dân tộc. Thắng lợi đó “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”(2). Với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, dù mang đến Việt Nam nhiều chục vạn binh sĩ, binh hùng tướng mạnh, đầu tư hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tỷ USD, với các loại vũ khí tối tân nhất, mang tính huỷ diệt nhất nhưng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là một tấn thảm kịch. Chưa có một cuộc chiến nào trong lịch sử Hoa Kỳ mà số binh lính và các tướng chết trận nhiều như vậy. Đến nỗi sau này chính phủ Mỹ đã cho xây “Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam” ở thủ đô Washington DC để tưởng niệm những quân nhân Mỹ đã tử trận ở Việt Nam.

Xe tăng quân giải phóng chiếm dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 - sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước  (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Trên thế giới này trong nửa sau thế kỷ XIX và thế kỷ XX, chưa có quốc gia nào chịu nhiều nỗi đau thương, mất mát như Việt Nam: gần trọn cả một thế kỷ là thuộc địa phụ thuộc (1858-1945), tiến hành chiến tranh nhân dân để bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất đất nước (1945-1975). Bước ra khỏi chiến tranh, nơi nơi trên dải đất hình chữ S từ Lũng Cú, Hà Giang (nay thuộc tỉnh Tuyên Quang) đến mũi Cà Mau hậu quả của chiến tranh là làng mạc bị tàn phá, nhà cửa huỷ hoại hoàn toàn, trên 3.000 nghĩa trang liệt sĩ dọc chiều dài đất nước đến ngày nay vẫn nhắc nhớ cho các thế hệ mai sau về tổn thất, về đau thương nhưng sừng sững những tượng đài về sự sẵn sàng hy sinh của các thế hệ cha ông. Vượt lên trên tất cả nỗi đau ấy, bản lĩnh, khí phách, trí tuệ  và phẩm giá con người Việt Nam lại toả sáng. Vượt qua những năm ròng bị bao vây, cô lập, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, Đảng đã quả cảm, dứt khoát từ bỏ tư duy và cách làm không còn phù hợp, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước, thực hiện cuộc chuyển mình vĩ đại: Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 hoạch định đường lối đổi mới, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Trong những năm 1989-1991, hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, gây chấn động chính trị kinh hoàng trên thế giới nhưng với tầm cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng và sự nhạy bén về thời cuộc, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định đổi mới đất nước; kiên định mục tiêu chiến lược là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ thực tiễn sau bốn thập kỷ thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trên mọi phương diện. Từ một nước  nghèo đói, đáy cùng của thế giới, thu nhập bình quân đầu người chỉ vài chục USD, lạm phát phi mã 774 %,  quy mô nền kinh tế chỉ khoảng 4,5 tỷ USD vào năm 1986, nay Việt Nam đã ghi danh vào câu lạc bộ của các nước có thu nhập trung bình cao; quy mô nền kinh tế đứng thứ 32 trên thế giới vào năm 2025 (514 tỷ USD), thu nhập bình quân đầu người từ vị trí 187/188 quốc gia được khảo sát năm 1990 (98 USD) nay đứng khoảng thứ 116 trong tổng số trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát (5.026 USD) (3). Từ chỗ bị cô lập, bao vây, cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của nhiều nhà đầu tư, hàng chục triệu khách du lịch và bạn bè quốc tế.

Những thành tựu trên không tự nhiên mà có, mà là sự hội tụ của nhiều nhân tố: đó là máu xương của các thế hệ cha ông, là trí tuệ, là sự chịu đựng muôn vàn gian khổ hy sinh của con người Việt Nam; là sự ủng hộ giúp đỡ của bạn bè yêu chuộng hoà bình khắp năm châu nhưng trước hết thuộc về sự lãnh đạo của Đảng với bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định. Trong mọi hoàn cảnh, Đảng luôn vững tin vào sự đúng đắn, tính khoa học, tinh thần bách chiến bách thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của sự nghiệp cách mạng mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, luôn đặt lợi ích quốc gia dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân lên trên hết.

5. Tăng cường bản lĩnh chính trị của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới – những bài học từ lịch sử

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của những cuộc vươn mình vĩ đại trong gian khó. Từ năm 1930-2025, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua hai kỷ nguyên: Kỷ nguyên độc lập tự do (1930-1975) và Kỷ nguyên thống nhất, đổi mới, phát triển (1975-2025). Nhưng chưa bao giờ, khái niệm "vươn mình" lại mang tính cấp thiết và sống còn như hiện nay. Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ một quốc gia bị bao vây cấm vận, nghèo đói, Việt Nam đã kiến tạo nên một cơ đồ, tiềm lực và vị thế, uy tín quốc tế chưa từng có. Những con số biết nói trên đây đã minh chứng cho hành trình thần kỳ ấy. Thế đã vững và lực của đất nước đã đủ mạnh để bước vào giai đoạn phát triển tăng tốc, bứt phá.

Đất nước vững bước hiện thực hoá  khát vọng thịnh vượng, hùng cường trong kỷ nguyên phát triển mới

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới với khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, bản lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục được đặt trước những yêu cầu, thách thức chưa từng có tiền lệ. Thế giới hôm nay mà chúng ta đang sống cùng những năm trước mắt, tiếp tục biến động nhanh, phức tạp, khó lường, cách mạng công nghiệp lần thứ tư lan như sóng lớn đang vẽ lại bản đồ thế giới; chuyển đổi số, kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo vừa là cơ hội bứt phá, vừa là phép thử về năng lực quản trị và sức bền của nội lực quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt giữa các nước lớn, những thành tựu đạt được của đất nước là chưa đủ, bởi nếu chúng ta tự thỏa mãn với những gì đã có, nghĩa là chúng ta đang tự chấp nhận đứng im, thậm chí tụt hậu.

Đất nước Việt Nam phải trở nên phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, theo kịp, tiến cùng và sánh vai với các nước tiên tiến trên thế giới. Đây chính là mệnh lệnh lịch sử và yêu cầu của thời đại. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (19-23/01/2026) là đại hội của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng Việt Nam, đã xác lập tầm nhìn, mục tiêu, định hướng chiến lược: Đến năm 2030, nhân dịp 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam là nước đang phát triển, công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đạt 8.500 USD /người và năm 2045, nhân dịp 100 năm thành lập nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở thành nước phát triển, công nghiệp hiện đại, thu nhập cao. Để tiếp tục hoàn thành sứ mệnh vinh quang nhưng trọng trách nặng nề ấy, Đảng cần tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị và sức mạnh tổng hợp, xứng tầm và đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới đặt ra. Những bài học lịch sử sau đây vì thế vẫn luôn mang tính thời sự sâu sắc:

Một là, kiên định mục tiêu chiến lược, linh hoạt trong sách lược. Lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cho thấy, mọi thắng lợi đều bắt nguồn từ sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời biết vận dụng sáng tạo các hình thức, biện pháp phù hợp với từng giai đoạn. Chứng kiến những biến động và rung lắc mạnh trong trật tự quan hệ quốc tế hiện nay, bài học này lại càng trở nên đặc biệt quan trọng.

Hai là, luôn đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết. Bản lĩnh chính trị của Đảng được thể hiện rõ nét ở việc luôn lấy lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc làm điểm xuất phát và mục tiêu cuối cùng. Trong mọi hoàn cảnh, Đảng không hy sinh độc lập, chủ quyền, không đánh đổi lợi ích lâu dài của đất nước để lấy lợi ích trước mắt.

Ba là, dựa vào Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Lịch sử khẳng định, bản lĩnh chính trị của Đảng không tách rời mối quan hệ mật thiết với Nhân dân. Mọi đường lối đúng đắn đều xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, từ nguyện vọng chính đáng của Nhân dân và vì hạnh phúc của Nhân dân.

Bốn là, không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Một trong những biểu hiện quan trọng của bản lĩnh chính trị là dám nhìn thẳng vào khuyết điểm, sai lầm để sửa chữa. Việc Đảng kiên quyết, kiên trì xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay là minh chứng rõ nét cho bản lĩnh chính trị trong điều kiện Đảng cầm quyền.

Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam, có thể khẳng định rằng bản lĩnh chính trị là nhân tố xuyên suốt, cốt lõi, quyết định mọi thắng lợi của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc kế thừa, phát huy và không ngừng bồi đắp bản lĩnh chính trị của Đảng không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1.  JulesRoy, “Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp”, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 1994
  2. Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 37, Nxb chính trị quốc gia sự thật, 2011
  3. https://baochinhphu.vn/gdp-nam-2025-tang-truong-802-binh-quan-dau-nguoi-dat-5026-usd-102260105152509472.htm
Bộ môn Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam và Tư tưởng Hồ Chí Minh - Học viện Tài chính
Số lần đọc: 447

Danh sách liên kết